Nhân loại qua các chặng đường phát triển

Sách do tác giả Thần Hy (Trung Quốc) chủ biên, được nhà xuất bản Thông tấn dịch và xuất bản năm 2002. Cuốn sách 485 trang, gồm ba phần với 9 chương. Phần I: “Những bí ẩn về nguồn gốc loài người” gồm 3 chương, Phần II: “Mật mã của sự tiến hoá sinh mệnh” gồm 2 chương, Phần III: “Những bí ẩn về sinh mệnh con người” gồm 4 chương.Cuốn sách trình bày khá phong phú những vấn đề về nguồn gốc con người và nguồn gốc loài người, nguồn gốc trái đất và nguồn gốc sự sống… lý giải những bí ẩn về đến di truyền, những bí mật về tinh thần, trí tuệ và tâm linh, những vẩn đề chưa giải thích được về sức khoẻ, về sự sống và cái chết… Cuốn sách cũng bàn đến nhiều thành quả của khoa học hiện đại, giới thiệu rất nhiều phát kiến vĩ đại của các nhà khoa học nổi tiếng, đã hoặc còn ít được nói tới ở nước ta…Thực ra, đọc cuốn sách này chúng tôi đã bắt gặp khá nhiều sai sót. Dù không có bản góc, nhưng chúng tôi vẫn ngờ những sai sót đó thuộc về việc dịch thuật và in ấn. Nhận thấy nội dung cuốn sách có nhiều bổ ích nên chúng tôi xin bỏ qua những sai sót đó để tóm lược giới thiệu cùng bạn đọc. Trong bài này, những chỗ để trong ngoặc kép là những chữ được dùng trong cuốn sách. Phần I: Những bí ẩn về nguồn gốc loài ngườiChương I: Tìm căn nguyên: rút cuộc chúng ta vẫn ở đâuTừ lâu nay, câu hỏi đặt ra đối với các nhà khoa học là: Loài người từ đâu tới? Theo tác giả, vấn đề khởi nguồn của loài người” đã cùng với “khởi nguồn của vũ trụ”, “khởi nguồn của trái đất” và khởi nguồn của sinh mệnh con người hợp thành “những mê hoặc của bốn thứ khởi nguồn lớn”. Những mê hoặc đó lại đan chéo lẫn nhau, liên hệ với nhau, khiến khó thể làm rõ ‘được một điều nào, nếu làm rõ được một điều nào trong đó sẽ là một đột phá vĩ đại.Những người theo thuyết tiến hóa mà khởi thuỷ là Dsrwln (1809-1882) với cuốn sách “Khởi nguồn của các sinh vật” (ở ta thường được dịch là “Nguồn gốc các loài” 1859) và “Nguồn gốc loài người” (1871) đã chứng minh lý luận về sự tiến hoá của các loài sinh vật, và từ đó lý giải vấn để “khởi nguồn của con người”. Những quan hệ gần gũi giữa người và vượn, biểu hiện về các mặt kết cấu thể hình, đặc trưng tâm lý, đặc trưng sinh lý cùng với những dị biệt khác đã nói lên rằng, điều chi phối sự phản hoá giữa người và vượn không phải là cái gì siêu tự nhiên, mà là thuộc về quy luật tiến hoá sinh học. Tất cả quá trình tiến hoá được giải thích bằng sự chọn lọc tự nhiên và chọc lọc “tính biệt”. Theo Darwin, “vượn châu Phi và loài người gần gũi với nhau nhất, từ đó ông suy luận khởi nguồn của loài người là ở châu Phi”.Từ những luận điểm của Darwin các học giả có mấy giả thuyết có tính chất suy đoán như sau: Nguồn gốc loài người là từ loài vượn cổ Rama, loài này có cách đây từ khoảng 14 triệu đến 8 triệu năm. Sau khi bị tuyệt diệt, loài vượn cổ phương Nam xuất hiện (khoảng 4 triệu đến 1 triệu năm trước). Những hoá thạch đã chứng minh điều đó, nhưng vấn để đặt ra là hiện tượng “khuyết hoá thạch” khoảng 4 triệu năm, tức là người ta chưa tìm thấy hoá thạch trong khoảng từ 4 triệu đến 8 triệu năm trước đây. Chính điều này đã tạo ra những khó khăn trong việc kết luận về nguồn gốc con người. Để giải thích cho khoảng thời gian không có hoá thạch nảy, Aristh Hatal, nhà nhân học người Anh đã nêu lên một thuyết mới, thuyết “vượn biển” (1960). Ông cho rằng sự tiến hoá của loài người đã có giai đoạn không ở lục địa. Dựa vào những phân tích về giải phẫu sinh lý học trên thân thể loài linh trưởng và so sánh những đặc trưng sinh lý với các loài động vật khác, ông đã chứng minh loài người có những đặc trưng cơ thể giống với các động vật biển mà loài linh trưởng không có. Điều này có thể cho biết loài người đã có giai đoạn dài sổng dưới nước, hay có thể nguồn gốc con người từ vượn biển.Như vậy, loài người có thể có hai tổ tiên: một là vượn cổ, một nữa là sinh vật ở biển. Đương nhiên cách thuyết minh về nguồn gốc phức hợp của song tổ tiên chỉ là một giả thuyết, chưa có chứng cớ xác thực tuyệt đối. Chính vì chưa có các chứng cớ xác thực tuyệt đối nên nơi ra đời của toài người cũng chỉ là tương đối dựa trên việc phân tích các hoá thạch. Qua phân tích, người ta đưa ra giả thuyết có thể loài người xuất hiện ở khu vực nóng ẩm ở Châu Á, phần phía nam Châu Âu và phía đông châu Phi. Về lịch sử trái đất, cuốn sách ước lượng khoảng 4500 triệu năm. Nếu 4500 triệu năm đó được coi là 24 giờ trong một ngày, bắt đầu từ 0 giờ, một giây bằng với khoảng 5 vạn năm, một phút bằng khoảng 3 triệu năm thì:Khởi nguồn của trải đất: Không giờ đêm.
Khởi nguồn của sinh mệnh: 5 giờ 45 phút sáng.
Khởi nguồn của động vật có xương sống : 9 giờ 02 phút tối.
Khởi nguồn của động vật có vú: 10 giờ 45 phút.
Khởi nguồn của các loài linh trưởng: 11 giờ 37 phút đêm.
Khởi nguồn của loài người có thể: 1 1 giờ 56 phút đêm.
Vượn cổ phương Nam: 1 1 giờ 58 phút đêm.
Người lý trí: 6,5 giây trước 12 giờ đêm.
Chương II: Khởi nguồn sinh mệnh: sự thực và những nghi hoặcChương này bàn về vấn đề nguồn gốc sự sống. Theo tác giả, “Muốn nghiên cứu khởi nguồn của loài người, trước hết phải tìm hiểu khởi nguồn của sinh mệnh. . Khoa học nổi (hiển học) cho rằng sinh mệnh trái đất lấy hóa học carbon làm cơ sở… cho nên sinh mệnh trái đất và sinh mệnh của các tinh cầu ngoài trái đất đều là sinh mệnh protein của các vật chất nguyên tử carbon”. “Khoa học chìm (tiềm học) thì cho rằng, có thể xuất hiện sinh mệnh vật chất silic với nguyên tố silic làm cơ sởn. Vậy thì Vấn đề nguồn gốc sự sống là như thế nào?Các nhà khoa học đã trải qua những nghiên cứu, thảo luận rất sâu nên đã kết luận được rằng, vật chất sống có những đặc trưng cơ bản là “sự thay mới đổi cũ, phát dục sinh sôi nảy nở, thích ứng với môi trường”. Sinh vật trên trái đất rất phong phú, có nhiều hình thái nhưng tất cả đều được cấu thành từ cùng một nhóm phân tử như nhau. Mọi sinh vật đã được biết về bản chất là như nhau nhưng đểu vô cùng phức tạp. Thời gian xuất hiện sự sống khó biết chính xác, qua các nghiên cứu và các chứng cứ, một số chuyên gia cho rằng khoảng 3500 triệu năm trước đã có sự sống xuất hiện trên trái đất.Về nguồn gốc ra đời của sự sống hiện vẫn là một điều bí ẩn, tết cả các lý thuyết đều mới chỉ là giả thuyết. Một số người cho rằng sự sống là do tự sinh: bắt nguồn từ hợp khí của trời đất (Tuân tử) từ bùn và cát sỏi phát triển mà thành (Aristôt) hay từ nước biển. Một số khác lại cho rằng sự sống là “đặc sinh” hay còn gọi là do “ý chí của trời, thượng đế”, được trình bày phổ biến trong các tôn giáo, truyền thuyết. Có thuyết coi “trái đất là mẹ của sinh mệnh”: sự sống bắt nguồn trong quá trình hình thành trái đất hoặc sau khi trái đất đã hình thành… Đáng chú ý nhất là “thuyết phôi chủng vũ trụ”. Đó là giả thuyết sự sống được sinh ra ngoài vũ trụ do tiến hoá hoá học và được mang vào trái đất có thể là do thiên thạch các sao chổi đâm vào trái đất… Cho đến nay, sở dĩ tất cả các giả thuyết vẫn chưa giải thích được nguồn gốc sự sống, theo tác giả là bởi vì, những điều được nghiên cứu là những sự việc xảy ra từ mấy tỉ năm về trước. Lúc đó, điều kiện môi trường trái đất có thể hoàn toàn khác với hiện nay. Hướng đi có tính khoa học nhất, đúng đắn nhất cho vấn đề này, chính là hướng mà Ăngghen đã chỉ ra trong “Biện chứng của tự nhiên” và trong “Chống Duyring”.Chương III: Vượn cổ: nhận định của loài người đối với tổ tiênTrong thế kỷ XVIII và XIX đã diễn ra hàng loạt quan điểm của các nhà nhân học, giải phẫu học… lý giải vấn đề liệu người và vượn có phải là cùng một nguồn gốc hay không. Darwin cùng những người theo thuyết tiến hoá của ông đã chiến thắng và các nghiên cứu vẫn được tiếp diễn cho tới hiện nay. Tuy vậy, những vấn đề đặt ra vẫn còn khá nhiều. Những vấn đề ấy có thể được sáng tỏ khi người ta chú ý nghiên cứu môi trường sinh thái của người vượn cổ.Các nhà khoa học đã đưa ra hàng loạt giả thuyết và chứng cứ khoa học, như việc chuyển từ sống trên cây xuống sống dưới đất, từ việc ăn thịt thay cho ăn cỏ, từ sự thay đổi khí hậu dẫn đến hiện tượng rụng lông… nhằm chứng minh sự chuyển biến từ vượn thành người. Tư thế đứng thẳng của cơ thể đã tạo nên sự thay đổi lớn lao ở vượn, cùng với điều đó là sự xuất hiện của lao động và ngôn ngữ sự xuất hiện các công cụ sản xuất và trao đồi tín hiệu đã làm cho vượn phát triển thành người. Phần II: Mật mã cửa sự tiến hoá sinh mệnh Chương IV. Tiến hoá sinh vật, năm tháng dài lâuSự sống nguyên thuỷ giản đơn qua quá trình sinh sản, thích ứng và không ngừng hoàn thiện đã làm cho sinh vật biến đổi ngày càng phức tạp. Đây chính là quá trình tiến hoá của sinh vật. Khi sinh vật tiến hoá tới một trình độ nhất định, loài người sẽ xuất hiện. Đây cũng chính là nội dung cơ bản của thuyết tiến hoá, nhưng những người theo thuyết tiến hoá lại chia làm hai phe với những quan điểm cũng khá khác nhau.Thuyết Lamarck – “dùng thì tiến – phế thì thoái”: coi nguyên nhân chủ yếu của sự tiến hoá định hướng của sinh vật lả nguyên nhân nội tại: “sinh vật có tính chủ thể cần biến hoá nên biến hoá”… Trong khi đó thuyết Lamarck mới lại coi sinh vật phát triển không theo định hướng bên trong mà theo định hướng bên ngoài; để cao các mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường. Chủ nghĩa Darwin để cao chọn lọc tự nhiên: cá thể nào ưu tú hơn thì sống và phát triển. Sinh vật chỉ có thể sinh tồn trong phạm vi cho phép của môi trường, do đó thông qua sự thích nghi mà sinh vật đã tiến hoá. Việc phát hiện các hoá thạch đá ngày càng củng cố chỗ đứng vững chắc cho thuyết tiến hóa và trở thành cơ sở lý luận cho sinh học hiện đại. Các sinh vật không ngừng tiến hoá do các tác động từ môi trường bên ngoài và căn bản nhất là sự phát triển biển đổi nội tại. Có bốn nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy tiến hóa sinh vật là “chọn lọc, đột biến, chuyển dịch và ngẫu biến”.Tiến hoá sinh vật là một qúa trình lâu dài, phức tạp. Kể từ khi bắt đầu xuất hiện sự sống cho đến ngày nay, quá trình này chưa túc nào ngừng lại. Do môi trường phức tạp của giới tự nhiên, hình thức tiến hoá của các loài cũng phức tạp. Về tốc độ tiến hoá, có thể chia làm tiến hoá nhanh và tiến hoá chậm, về hệ thống tiến hoá, có thể chia thành “tiến hoá loài” và “tiến hoá phân ngành”, “tiến hoá đan xen” và “tiến hoá khâu thiếu”.Chương V: Từ vượn đến người: con đường tiến hoá của loài người. Dựa trên các mẫu hoá thạch, có giả thuyết cho rằng tổ tiên trực tiếp của loài người là vượn Rama có cách đây 12 triệu năm. Cách đây 5 – 2 triệu năm, đã xuất hiện vượn cổ phương Nam (hay còn gọi là vượn Nam. vượn Nam châu Phi). Cách đây khoảng 3-2 triệu năm, một chi trong vượn cổ phương Nam tiến hoá thành người đứng thẳng (tức người vượn) sau đó tiến hoá thành người trí năng sơ kỳ (tức người cổ), rồi người trí năng hậu kỳ (tức người mới), tiến hoá thành người hiện đại. Có một số giả thuyết khác không thừa nhận các quan điểm trên về các giai đoạn phát triển từ vượn đến người. Đã có những chứng cứ khoa học chứng minh rằng, vượn Rama không phải là tổ tiên toài người. Giả thuyết mới của R.Lưu, Giám đốc Bảo tàng Quốc gia Kenya, nhà cổ nhân học nổi tiếng cho rằng, 7 triệu năm trước, có động vật giống vượn đã chuyển hoá thành một loài đi lại đứng thẳng bằng hai chân. Khoảng 4 – 1 triệu năm trước, xuất hiện loài vượn cổ phương Nam với não lớn hơn rõ rệt. Não to đánh dấu giai đoạn thứ ba, đó là tín hiệu xuất hiện bộ người, chi này của loài sau này đã phát triển thành người đứng thẳng và cuối cùng thành người “trí năng”. Giai đoạn bốn là khởi nguồn của loài người, là sự tiến hoá của người như chúng ta hiện nay.Trong khoảng 30- 20 vạn năm, tới 5 – 4 vạn năm, thể chất và sức sản xuất của con người đã đạt đến một giai đoạn mới, tức là giai đoạn người tinh khôn sơ kỳ. Để chuyển lên giai đoạn này, là nhờ có trải qua lao động vài chục vạn năm giúp cho thể chất, trí lực, sức sản xuất của người cổ phát triển lên nhiều. Hàng loạt các hoá thạch đã chứng minh điều đó.Cách đây khoảng 4 – 5 vạn năm cấu tạo thể chất của loài người đã phát triển tới mức không có gì khác biệt với người hiện đại, đó lả người tinh khôn hậu kỳ. Vào thời kỳ này, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và điều kiện địa lý đã tạo nên sự khác biệt về chủng tộc, vóc dáng, màu tóc, màu da…Phần III: Những bí ẩn về sinh mệnh con ngườiChương VI: Nhận thức về cơ thể con người: thời kỳ tìm tòi vô tậnNgười hiện đại là kết quả tiến hoá sinh vật từ nhiều vạn năm, chúng ta tuy đã sơ bộ tìm ra bí mật phát sinh, tiến hoá của con người, nhưng cơ thể của con người thì vẫn còn nhiều bí ẩn mà chúng ta chưa hiểu hết. Như các bộ phận của cơ thể: mắt, mũi, miệng… các số đo trên cơ thể, đại não thứ hai của con người hay các kích thích tố nằm bên trong cơ thể…“Chuông sinh vật” (đồng hồ sinh học) chính là luật điều tiết sinh vật của cơ thể con người. Chúng ta biết một ngày gồm 24 giờ thì tương ứng với một giờ, các cơ quan trong cơ thể lại có các họat động khác nhau tạo nên một hệ thống vận hành hoàn hảo. Việc thực hiện tốt chuông sinh vật sẽ giúp ta khoẻ mạnh và sống lâu hơn, và ngược lại việc làm xáo trộn chuông sinh học sẽ gây nên các hậu quả khó lường.Chương VII. Trồng dưa được dưa: Những bí mật của di truyềnNgạn ngữ Trung Quốc có câu: trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Câu này cũng có thể đúng cho di truyền của con người. Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người áo là Menđen lấy đậu Hà Lan làm thí nghiệm, đã phát hiện thể chứng và ngoại hình của mọi sinh vật đều do một hạt nhân di truyền quyết định, loại hạt nhàn di truyền hoá học này về sau được Morgan, nhà sinh vật học người Mỹ, định nghĩa là “gen”.Ngày nay, vời các phương.tiện kỹ thuật hiện đại, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về gen và đã có các kết quả lớn lao như gen là thể mang thông tin di truyền, là ADN và ARN có kích thước rất nhỏ, gen nằm trên các nhiễm sắc thể và khống chế di truyền… Hiện nay các nhà khoa học đang nghiên cứu bản đồ gen. Bản đồ gen là một bộ Bách khoa toàn thư chứa toàn bộ tín hiệu về di truyền của con người, giải mã nó là có thể giải mã được nhiều bí mật của con người.Một thành tựu mới nữa của khoa học hiện đại là việc sinh sản vô tính người, được thử nghiệm thành công khi nhân bản vô tính cừu Dolly. Về góc độ kỹ thuật mà nói việc sinh sản vô tình người là hoàn toàn có thể thực hiện được. Nhưng từ góc độ di truyền thì việc sinh sản vô tính làm cho chất lượng của thế hệ con cái không có cách nào vượt qua được bố mẹ. Và dưới góc độ đạo đức và các chuẩn mực xã hội thì việc sinh sản vô tính người sẽ rất có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng. Do vậy, phương châm là nên phát triển kỹ thuật nhân bản vô tính, nhưng không nên có người được sinh sản vô tính.Chương VIII: Mạch nước ngầm tâm linh kỳ dị: bộ não và thần kinhĐại não người có hơn 14 tỷ tế bào thần kinh, mỗi tế bào trong đó lại nối tiếp với hơn 5 vạn tế bào khác, nó còn phức tạp gấp 1400 lần mạng lưới điện thọai toàn cầu hiện nay, đại não đầy những nếp nhăn, bình quân mỗi mm2 đại não phân bố tới 8 vạn tế bào não, trong đó mỗi ngày có thể ghi nhớ 600 thông tin, trong một đời người có thể tàng trữ 10 vạn tỷ thông tin. Các nghiên cứu cho thấy đại não là một công xưởng hoá học, là một hệ thống máy tính, Ni não có thể duy trì gìn giữ cơ thể con người và nó có thể tự hồi phục. Đại não không có cảm giác đau, nó có thể phát tín hiệu đói bụng… Công năng của não người hay còn gọi là trí lực là tổng hợp những đặc trưng tâm lý được hình thành trong quá trình nhận thức tương đối ổn định. Các nghiên cứu sinh lý học hiện đại chứng tỏ rằng, não người có 4 khu vực công năng: một là khu cảm thụ những cảm giác tiếp nhận hiện thân ngoại giới khách quan, hai là khu vực tồn trữ việc tiến hành thu thập chỉnh lý những cảm giác ấy, ba là khu vực phán đoán tư duy về sự bình luận đánh giá những thông tin đã thu thập; bốn là khu vực tưởng tượng các loại tổ hợp thông tin theo hình thức mới.Nằm mộng là một hiện tượng tự nhiên. Khi chúng ta tỉnh dậy, mỗi dây thần kinh đều khẩn trương tiếp nhận những thông tin từ bên ngoài. Khi ngủ, thần kinh dần dần giãn ra thoải mái, mặt lý tính vốn có trở nên yếu, thay vào đó là dục vọng bản năng và tình cảm bị kìm nén. Rất nhiều nguyên nhân hình thành mộng, có nguyên nhân do thay đổi môi trường tự nhiên ngoại giới, có nguyên nhân do những hoạt động sinh lý của cơ thể, có nguyên nhân do sư kích thích vật chất ở bên ngoài não đó và còn không những nguyên nhân mà hiện nay chưa hoàn toàn rõ.Chương IX. Khi nào tái xuân: lão suy và tử vong của con ngườiCuộc sống là hiện tượng đẹp đẽ nhất của loài người, cái chết “là một kết cục không được hoan nghênh nhất, nhưng không sao thay đổi được”, bất cứ ai cũng đều không có cách gì thoải khỏi, không có cách gì vượt qua. Hiện nay, sự phát triển của khoa học, vẫn chưa có một kế hay, một diệu pháp nào có thể ngăn ngừa lão suy của loài người, thế nhưng quá trình làm cho lão suy đến muộn lại đang dần dần biến thành hiện thực. Cuối cuốn sách, tác giả bàn đến khả năng “ướp lạnh chờ cứu chữa” đối với con người. Theo tác giả, “các nhà khoa học đều hết sức tin tưởng vào việc đó”.Theo  Tạp chí Nghiên cứu con người 


About this entry